manhquanjsc - manhquanjsc.com.vn

GRANAT (GARNET) - HỒNG LỰU NGỌC

Granat (Garnet) được xếp vào nhóm đá bán quý, chúng là một trong những nhóm đá đa dạng về màu sắc với các dải màu khác nhau.
Trong nhóm khoáng vật GARNET kết tinh trong hệ lập phương có một số màu sắc đẹp khả dĩ được mài thành ngọc trang sức và trên thị trường giá trung bình (thấp hơn ruby, saphir) nhưng nếu độ trong suốt cao thì giá có khả năng cao hơn chút ít. Tất cả thuộc hệ lập phương, dùng ống phân cực dễ dàng nhận biết, màu sắc chủ yếu màu đỏ, nhưng cũng có những màu lục, xanh, lục cỏ v.v.. trông cũng rất bắt mắt. Sau đây là công thức hóa học chính và một vài biến dạng có công thức khác đôi chút.
Hình 1: Các loại đá quý thuộc nhóm Garnet
Như vậy hầu hết chúng là những silicat của Ca, Mg, Fe, Mn ...Sau đây sẽ giới thiệu sơ lược hình ảnh, màu sắc và một số tính chất quang học, ngọc học.
 
ANDRADIT - Ca3Fe2Si3O12
Màu sắc: Xanh lá cây, đen, nâu, vàng nâu…
Tỷ trọng: 3.7 – 4.1
Chiết suất: 1.88 – 1.94
Độ cứng: 6.5 - 7
Hệ tinh thể: Lập phương
Andradit là một Silicat Canxi – sắt thuộc nhóm Garnet. Andradit có ba biến thể là Demantoid, Melanit và Topazolit. Trong ba biến thể của Andradit thì Demantoid là loại có giá trị nhất vì nó có màu xanh lá cây đến xanh lá cây hơi vàng, rất đẹp. Nguyên nhân tạo nên màu xanh trong Demantoid là Cr và Fe3+, chúng tạo màu hơi vàng hình 10.1. Hai biến thể còn lại là Melanit có màu đen, thường bị nhầm với thủy tinh đen. Topazolit có màu vàng đến vàng chanh, nhìn rất giống với Topaz. Demantoid được hình thành trong quá trình biến chất.
                 
Hình 2: Andradit tinh thể (màu vàng nâu) và đã chế tác (màu xanh lục sẫm)
 
GROSULA với các biến thể là TSAVORIT và HESONIT - Mg3Al2(SiO4)3
Màu: không màu, xanh lục, vàng, nâu
Độ cứng (Mohs): 7 – 7.5
Tỷ trọng: 3.60 – 3.68
Chiết suất: 1.734 – 1.759
Grosula có hai biến thể nổi bật là Tsavorit Hesonit rất hiếm và rất đẹp. Tsavorit có màu từ lục đậm đến lục nhạt, còn Hesonit có màu nâu đỏ. Grosula được thành tạo trong quá trình biến chất.
 
không giống như các loại đá quý khác Tsavorit trên thị trường hiện nay không bị đốt trong dầu và cũng không bị bất cứ xử lý nào. Vẻ đẹp tinh khiết và màu sắc thu hút của Tsavorit là hoàn toàn tự nhiên. Rất hiếm hoi người ta mới tìm được một tinh thể Tsavorit thô nặng hơn 5 carat, do đó, để cắt được một viên Tsavorit nặng hơn 2 carat là cực kỳ hiếm. Tuy nhiên, nhờ vào những đặc tính đặc biệt của loại đá quý này mà ngay cả khi kích thước rất nhỏ thì nó vẫn vô cùng lấp lánh.
        
Hình 3: Tsavorit (màu xanh lục) và Hesonit (màu vàng nâu)
PYROP - Mg3Al2Si3O12
Màu: đỏ gần như đen
Tinh hệ: Lập phương
Độ cứng (Mohs): 7 – 7.5
Tỷ trọng: 3.62 – 3.87
Chiết suất: 1.720 – 1.756
Pyrop là thành viên duy nhất của gia đình Garnet có màu đỏ đậm đến đỏ đen. Với đặc điểm này nên theo tiếng Hy Lạp nó được gọi là Pyrop, có nghĩa là mắt và lửa.
Với sự thay thế một phần của một số nguyên tố như Ca, Cr, Fe, Mn thay thế cho Mg và Al, Pyrop biến đổi thành almandin  và spesartin.
Pyrop có ngồn gốc từ đá biến chất ( Eclogit) ở những độ sâu thành tạo rất lớn. Người ta còn tìm thấy một số rất ít Pyrop được mang theo ống nổ kimberlit cùng với kim cương. Loại Pyrop này có hàm lượng Cr2O3 từ 3.8% nên nó có một màu tím với một chút ánh xanh rất đặc trưng.
                
Hình 4: Pyrop dạng tinh thể và đã chế tác